Đăng ngày: 09:25 29-04-2011
Thư mục: Tổng hợp
Từ 2010-05-05 đến 2011-04-29
Sau 70 năm Tòa Thánh đóng ở Avignon, Công giáo La Mã lại rơi vào cuộc khủng hoảng lớn, gọi là Ly giáo Tây phương.
Do
cạnh tranh quyền lực chính trị, các Hồng Y, các vua châu Âu chia rẽ và
đã bầu lên 2 rồi đến 3 vị Giáo hoàng, hình thành nên hai dòng ở Avignon
và Rome . Lại mất 30 năm chia rẽ nữa, cuối cùng một Công đồng được
triệu tập, và quyết định truất phế cả ba vị Giáo hoàng, để lập nên một
vị Giáo hoàng mới.
Các vị Giáo hoàng bị phế truất đều bị coi là Giáo hoàng giả
(Ngụy giáo hoàng - antipope). Trong lịch sử có mấy chục vị Giáo hoàng -
do cạnh tranh quyền lực - đã bị coi là Ngụy giáo hoàng, dù có khi ở
ngôi đến mấy chục năm.
Lịch sử các vị Giáo hoàng - Kế vị Thánh
Peter, Đại diện của Chúa Kitô - cũng thật nhiều điều thú vị, đầy vinh
quang quyền lực nhưng cũng đầy mưu mô tội lỗi.
Đến thế kỉ 16, Giáo hội Công giáo đã ở đáy sâu của sự suy đồi.
Phong
trào Phục Hưng khiến các Giáo hoàng, Hồng y lao vào cuộc đua tranh xây
dựng, trang trí nhà thờ và dinh thự vô cùng tốn kém, với hàng triệu đồng
vàng tiêu tốn cho tranh, tượng cẩm thạch, vàng ngọc châu báu..., đồng
thời cho sự ăn chơi xa xỉ của giới giáo phẩm. Ngôi Giáo hoàng, ghế Hồng y
do các gia tộc lắm tiền thao túng, mua bán công khai.
Để tạo ra vây cánh cho mình, các Giáo hoàng tạo ra chế độ "Hồng y con cháu" (Cardinal newphew)
dành cho họ hàng của mình, bất kể người đó có tu hành hay không, có
công trạng hay năng lực gì không, rồi tìm cách đưa những đứa cháu đó kế
vị mình.
Tiêu biểu là Giáo hoàng Innocent VIII, có con
riêng công khai, và trong lễ cưới của con trai mình, để làm vui lòng ông
thông gia, đã phong cho em trai cô dâu khi đó mới 10 tuổi làm Tu viện trưởng; và 3 năm sau, đứa trẻ 13 tuổi được phong Hồng y
! Sau đó với quyền lực và tiền bạc của cha mẹ, vị Hồng y đó ngồi vào
ngai Giáo hoàng năm 37 tuổi (Leo X). Vị giáo hoàng này chưa một ngày làm
Linh mục, nhưng rất phóng túng và thành thạo trong việc tiêu xài, với
câu nói nổi tiếng khi lên ngôi : "Chúa cho ta ngôi giáo hoàng, nên ta phải hưởng thụ nó".
Dù
có rất nhiều vàng từ châu Mỹ đổ về, nhưng vẫn không đủ để Giáo hội
tiêu, nên Leo X đã nghĩ ra cách rất hay là "Bán sự xá tội". Ai đóng
nhiều tiền thì được xá tội nhiều, chóng được lên Thiên đường. Giáo hoàng
bán sự xá tội cho các Vua, các Giám mục tranh thủ bán sự xá tội cho quý
tộc, người giàu, Linh mục bán sự xá tội cho dân chúng. Ai có nhiều tiền
cũng có thể mua được con đường tắt lên Thiên đường cả... Hiện nay cũng thấy hình thức khuyến khích các gia đình giàu có góp tiền cho nhà thờ bằng cách trao bằng ân nhân cấp 1, 2 , 3, ban ơn đại xá, tiểu xá khuyến khích đi lễ theo phong trào dưới nhiều hình thức tế nhị tinh vi.
Từ trong bối cảnh thối nát đó, Martin Luther đã phản kháng...
Martin
Luther là một tu sĩ dòng tu kín ở Đức, nghiên cứu Kinh thánh trong
nhiều năm. Chứng kiến sự tệ hại của giáo hội Công giáo ở nơi mình ở, ông
đến Rome hi vọng thấy được sự thánh thiện nơi đây. Nhưng Rome khi đó
đang ở đáy của sự suy đồi dưới bàn tay của Giáo hoàng Leo X, Martin
Luther đã viết các luận đề của mình phản kháng lại chế độ Giáo triều tha
hóa. Phong trào Kháng Cách bùng nổ và ngày càng được hoàn thiện về lý
luận, được sự ủng hộ của các tuyển hầu Đức nên phát triển rất nhanh.
Người
Công giáo gọi họ là Phản thệ (phản lại lời thề), còn họ tự nhận mình là
Cải Cách, hoặc Cải Chính. Giới học thuật gọi là Kháng Cách, còn Việt
Nam hiện nay quen gọi là Tin Lành.
Tóm tắt luận điểm của Kháng Cách không dễ dàng, tôi chỉ viết sơ lược.
Công giáo đặt ra các giáo lý dựa trên Thánh kinh và Thánh truyền,
trong đó Thánh truyền là định chế do các giám mục họp lại và đặt ra,
củng cố quyền lực và quyền lợi của giáo hội. Trong các 7 Thánh lễ thiêng
liêng của Công giáo, có 5 cái là do các giám mục đặt ra.
Tin Lành chỉ dựa trên Thánh kinh,
được cho là Chúa đặt ra. Mọi giáo lý do con người đặt ra là vô giá trị.
Do đó những giáo lý như Giáo hoàng là đại diện Thiên Chúa, là có quyền
trên tất cả các linh hồn, quyền phán xét, phong Thánh, kết tội....các
giáo dân đều vô giá trị. Các hàng giáo phẩm (phó tế, linh mục, giám
mục...) được Chúa Thánh Thần ngự trong lòng và thiêng liêng hơn giáo dân
đều là tiếm quyền và bịa đặt. Trong các Thánh lễ, chỉ có Rửa tội và
Thánh thể do Giêsu đặt ra là thực, 5 cái còn lại là vô giá trị.
Công giáo cho rằng sự cứu rỗi có được là do Đức tin và Công đức,
trong đó Công đức tức là việc tuân thủ các giáo điều do Giáo hội đặt
ra, trong đó có cả việc đóng góp tiền bạc, cung phụng các giáo phẩm,
việc tu hành trong các nhà tu kín... Ơn cứu rỗi có được khi cần có cả sự
xác nhận của giáo hội, giáo hội có quyền giải tội và phán xét.
Tin Lành cho rằng sự cứu rỗi hoàn toàn chỉ do Đức tin
vào Thiên Chúa, các công đức do việc làm này nọ là vô nghĩa. Đức tin là
con đường duy nhất để đến Thiên đường. Ơn cứu rỗi chỉ đến từ Thiên
Chúa, không đến từ bất kì nguồn nào khác, ngoài Thiên Chúa, không ai có
thể giải tội và phán xét.
Công giáo cho rằng giữa loài người và Thiên Chúa phải có bậc trung gian, chính là Giáo hội, và các Thánh.
Giáo dân không thể liên thông với Thiên Chúa nếu không thông qua Giáo
hội, và cần phải nhờ vả các Thánh cầu xin hộ mình thì lời mới nhanh đến
được hơn tới Chúa. Vì thế việc tôn vinh Giáo hội và các Thánh là bắt
buộc.
Tin Lành cho rằng Thiên Chúa toàn năng không cần trung gian nào hết.
Đấng Trung bảo duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa nghe thấu tất cả
mà không cần đến Thánh nào cả. Do đó việc tôn vinh các Thánh là hoàn
toàn vô nghĩa, các Thánh cũng chỉ là người, không có quyền năng gì cả.
Từ sự khác biệt về giáo lý cơ bản, Tin Lành khác biệt Công giáo ở rất nhiều yếu tố thể hiện.
Công
giáo phong cho bà Maria là Đồng trinh trọn đời, với các tước hiệu : Mẹ
Thiên Chúa, Nữ Vương các Thánh, Nữ vương Hòa Bình, Mẹ Trời đất, Vô nhiễm
Nguyên tội, Hồn xác lên trời, được tôn sùng cực độ chỉ sau Thiên Chúa.
Mọi giáo dân đều phải cầu nguyện Đức Mẹ.
Tin
Lành căn cứ vào Kinh thánh, chỉ viết là bà Maria đồng trinh cho đến khi
sinh Giêsu, còn sau đó không nói gì. Do đó sau khi sinh Giêsu, bà còn
đồng trinh hay không không quan trọng, thậm chí căn cứ vào Kinh thánh
thì bà Maria còn có vài người con với ông Giuse nữa sau Giêsu. Bà Maria
chỉ là một người mẹ mẫu mực, nhưng không có vai trò gì, không giúp được
ai, do đó không cần tôn sùng, không cần cầu nguyện.
(Gần
như tất cả giáo dân Công giáo mà tôi đã gặp đều chỉ biết mỗi điều là
Tin Lành không tin Đức Mẹ đồng trinh, chứ còn không biết gì về bản chất
cả).
Công
giáo đặt ra luật các tu sĩ phải độc thân, phong Linh mục (chăn dắt linh
hồn), và cho đó là thể hiện sự thanh sạch theo gương Chúa. Linh mục chỉ
có thể là nam
Tin
Lành không cho rằng việc độc thân có giá trị gì trong việc nhận ơn cứu
độ. Kinh thánh cho thấy các Tông đồ của Giêsu cũng có vợ con cả, do đó
không cần độc thân. Giáo phẩm của Tin Lành chỉ là Mục sư (người thầy
giảng dạy) chứ không có quyền gì với linh hồn, có thể lấy vợ. Mục sư có
thể là nữ.
Công
giáo tôn sùng các Thánh, mỗi giáo dân đều phải có tên Thánh, Thánh bảo
hộ, mỗi giáo xứ, giáo phận,... đều có Thánh quan thầy. Việc nghe xưng
tội, giải tội vừa là nhiệm vụ vừa là quyền dành riêng cho linh mục.
Tin
Lành không tin vào các Thánh, do đó không có tên Thánh, cũng chẳng có
bản mạng, quan thầy. Việc xưng tội là với Thiên Chúa, không phải với ai
cả.
Công
giáo tin rằng trong lễ Báp têm (rửa tội), Thiên Chúa hiện diện và tội
tổ tông được tẩy rửa thực. Trong lễ Thánh Thể, sau khi Linh mục làm phép
thì Bánh thánh về bản chất trở thành Thân thể Chúa thật, rượu trở thành
Máu Chúa thật, Chúa thực sự ngự ở trong bánh và rượu sau sự làm phép.
Tin
Lành cho rằng lễ Báp têm và Thánh thể tuy thiêng liêng nhưng chỉ là
tượng trưng. Bánh thánh và Rượu là Tượng trưng cho Mình và Máu Chúa
thôi. Chỉ có trong Bữa tiệc ly, khi đích thân Giêsu làm phép thì Bánh và
Rượu mới thực sự là Mình và Máu Chúa, còn về sau thì không ai có quyền
năng đó cả.
(Việc này có bắt nguồn từ việc một lần Bánh thánh sau khi
linh mục đã làm phép đã bị mốc, do đó người ta nghi ngờ liệu Chúa có
thực sự ngự trong bánh đó không?)
Nhà
thờ Công giáo rất thiêng liêng, thường có tượng Chúa Giêsu bị đóng
đinh, và rất nhiều tranh ảnh tượng các Thánh, thiên thần...
Tin
Lành chỉ dựng cây Thập giá, với lập luận Chúa đã Phục sinh, không còn ở
trên Thập giá nữa. Hơn nữa chẳng có ai biết chính xác ngoại hình Chúa
thế nào, do đó các tranh ảnh tượng Chúa đều là tưởng tượng (bịa ra).
Càng không có tranh ảnh tượng Đức Mẹ hay các Thánh...
(Tuy nhiên, về sau do có nhiều nhà thờ Công giáo chuyển sang Tin Lành nên vẫn giữ ảnh tượng truyền thống cũ không bỏ đi)
Trước đó,
Kinh Thánh chỉ có 2 phiên bản: nguyên bản tiếng Hy Lạp dùng cho Chính
Thống giáo phương Đông, và bản dịch sang tiếng Latin cho Công giáo La
Mã. Tòa thánh La Mã cấm dịch Kinh Thánh sang tiếng khác, ngoài Tu sĩ,
Giáo phẩm, mọi người khác bị cấm đọc Kinh Thánh.
Đọc Kinh Thánh và giảng giải Kinh Thánh là độc quyền của riêng Linh
mục, nếu không đến nhà thờ thì không thể "được nghe lời Chúa".
Sau
Martin Luther, Kinh Thánh mới được dịch sang tiếng Đức, rồi tiếng Anh,
tiếng Pháp... lúc này Tòa thánh buộc phải chấp nhập bỏ đặc quyền đọc
Kinh Thánh, ai biết chữ cũng có thể "đọc lời Chúa" được.
Tại Đức,
phong trào phát triển mạnh, nhưng tại Pháp thì bị đàn áp dã man. Trong
ngày lễ Thánh Batholomew, vua Pháp đã ra lệnh tàn sát hàng vạn người Tin
Lành, trong đó có nhiều quý tộc. Ai đọc truyện "Hoàng hậu Macgô"
sẽ thấy Alexandre Duma mô tả sự kiện đó thế nào. Những ai giết được
người Tin Lành đều được Giáo hoàng ban phước. Cho đến giờ, Pháp, Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha vẫn là căn cứ vững chắc của Công giáo.
Tại Anh quốc, câu chuyện lại rất khác...
Vua Henry
VIII của nước Anh lúc đầu chống Tin Lành, và giết được khá nhiều người
Tin Lành, khiến Giáo hoàng vui mừng phong cho danh hiệu "Người bảo vệ Đức tin".
Thế
nhưng Henry lại muốn bỏ người vợ của mình để lấy người khác (với lý do
hoàng hậu không sinh được con trai), nhưng bị Giáo hội cấm, vì Phép Hôn
phối là thiêng liêng. Henry cứ nhất quyết li dị và lấy vợ mới. Giáo
hoàng tức giận dùng vũ khí cuối cùng là rút phép thông công Henry
và dọa là cả nước Anh. Nhưng lần này Giáo hoàng đã sai lầm, không giống
như một vài vua trước kia sợ hãi cái quyền lực ấy, Henry VIII chống
lại.
Vua Anh liền ra một đạo luật tuyên bố Giáo hội tại Anh tách
khỏi Công giáo La Mã, Giáo hoàng không có bất cứ quyền gì trên nước Anh.
Người lãnh đạo tối thượng về tôn giáo tại Anh chính là Vua. Tổng Giám
mục vùng Canterbury là người lãnh đạo chính. Việc Giáo hoàng ra vạ tuyệt
thông trở thành vô nghĩa, Giáo hoàng bất lực nhìn đảo Anh tuột khỏi tay
mình.
Vua Henry quay sang ủng hộ Tin Lành, do đó tịch thu của
cải đất đai của nhà thờ lại, phân phát cho các quý tộc (khi đó nhà thờ
nắm đến 1/4 đất đai toàn quốc), các tu viện bị giải thể, các linh mục
chống đối bị đuổi về lục địa. Tổng giám mục Canterbury dịch Kinh Thánh
sang tiếng Anh, vị kế nhiệm lấy vợ.
Anh giáo ly khai khỏi Công
giáo. Đau lòng, Giáo hoàng tại Rome đã cho tạc pho tượng Thiên thần đứng
trên quả địa cầu, với ngón chân cái dẫm lên nước Anh.
| S | M | T | W | T | F | S | 1 | 2 | 3 | 4 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 |
| 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 |
| 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 |
| 26 | 27 | 28 | 29 | |||
Bản quyền © 2012 Yahoo! Southeast Asia Pte. Ltd. (Co. Reg. No. 1999700735D). Giữ toàn quyền.

