Đăng ngày: 05:01 18-05-2012
Thư mục: Tổng hợp
Blog VN đang sắp sửa chuyển đổi sang một nền tảng mới.
Chúng tôi đang trong quá trình chuyển đổi.
Trải nghiệm Blog Yahoo! hoàn toàn mới, bạn có thể chuyển đổi ngay lập tức hoặc dùng thử sản phẩm mới này.
Từ 2011-09-13 đến 2012-05-18

(Bài đã đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ- Hội Nhà văn Việt Nam)
Nguyễn Việt Chiến
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, quê ở TP Huế, con trai của nhà cách mạng Hải Triều- Nguyễn Khoa Văn (dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc Hải Dương cũ). Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội năm 1964, ông vào hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên-Huế; năm 1995 làm Tổng thư ký Hội nhà văn VN, năm 1996 làm Bộ trưởng Bộ VHTT, nguyên Bí thư TƯ Đảng, Ủy viên Bộ chính trị…tác phẩm đã xuất bản:Đất ngoại ô (thơ),Cửa thép (ký), Mặt đường khát vọng (trường ca),Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ),Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Cõi lặng (thơ). Các giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn VN, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Giải thưởng Văn học nghệ thuật của Thừa Thiên-Huế.
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm hướng tới sự chiêm nghiệm của thi ca
Ông là một nhà thơ thành đạt cả ở lĩnh vực văn chương và chính trị. Đã có nhiều năm lăn lộn sống chết ở chiến trường phía Nam và đã trải qua nhiều thăng trầm thế sự. Ở bài viết này, tôi chỉ mong khắc họa một đôi nét về những đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm trong lĩnh vực đổi mới, cách tân thi ca Việt Nam trong những thập niên qua. Có thể nói với tập thơ “Đất ngoại ô”in năm 1973 và trường ca “Mặt đường khát vọng” in năm 1974, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mở một trang mới trong những thi điệu “tráng ca” có tính sử thi cổ vũ tinh thần dân tộc trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Dấu ấn đặc biệt đó được làm nên bởi một phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm: sâu lắng trữ tình và uyên bác kiến văn. Cái phần trữ tình trong thơ ông không mấy khi kể lể dông dài bằng cảm xúc mà nhiều lúc được soi xét bằng một lăng kính cảm quan tinh tế của tri thức. Cái chất công dân và tính thế sự trong thơ ông thường ẩn sâu dưới bề mặt chữ một cách điềm đạm, tỉnh táo để khơi gợi chứ không ồn ào, nóng gắt khi phản ánh.
Và, vượt lên trên dòng chảy của cảm xúc là nhịp điệu của một tư duy thơ được thiết lập để chuyển tải những ý tưởng chính của tác giả mà bài thơ “Những bài hát, con đường và con người” dưới đây là một ví dụ:
Những bài hát không ai hát nữa
Đã vỡ trên môi anh ngọn gió dịu dàng
Sẫm bên đường mỗi sợi cỏ hoàng hôn
Nghe thương mến lại thắp từng ngọn lửa
Những bài hát không ai hát nữa
Đã vỡ trên môi anh ngọn gió dịu dàng
Những con đường không ai trở lại
Đã xuyên qua anh những mạch máu âm thầm
Anh nghe đập những bước chân đồng đội
Bao lối mòn chớp lửa chiến tranh
Những con đường không ai trở lại
Đã xuyên qua anh những mạch máu âm thầm
Những con người không ai gặp nữa
Đã đặt lên vai anh gánh nặng cuối cùng
Bao khuôn mặt gầy xanh, mơ mộng
Như cánh rừng, đã thuộc về anh
Những con người không ai gặp nữa
Đang sống cùng anh trọn tuổi xuân
Sau khi nghỉ công tác và rời xa sự nóng-lạnh của chính trường, điều đáng mừng là với tập thơ “Cõi lặng”, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã trở lại ngay được với nhịp điệu nội tại của thi- ca- cứu-rỗi trong tâm hồn ông, cái mà trước đó những độc giả yêu mến thơ Nguyễn Khoa Điềm tưởng chừng ông đã xao lãng và xa cách. Trở lại với một đêm thu ở Hội An, nhà thơ ngồi trên “bậc thềm giả cổ” của thời hiện đại để chiêm nghiệm tâm trạng của con người thời hiện tại như một chứng nhân trước những đổi thay chóng mặt của thời cuộc và sự mong manh của số phận con người:
Ngoài kia những chiếc thuyền câu đốt đèn trôi theo sông
Đuổi theo một nghề nghiệp cũ
Ở đây trên bậc thềm giả cổ
Người thi sĩ không ngủ
Ngồi đập muỗi
Đợi một làn gió mặn
Tất cả chúng ta rồi sẽ già nua
Bên dòng sông tăm tối này
Sẽ chết
Mà không được đóng dấu kiểm dịch
Đặng bình tâm trong miệng kẻ khác
Ôi bác ngư dân già nua
Anh ngư dân trẻ
Đêm nay vợ anh nằm trên nửa chiếc giường hẹp
Đợi anh về
Quạnh quẽ quê hương nhiều thế kỷ
Tìm một chỗ sống
Người thi sĩ im lặng
Quanh anh không vệt lân tinh dự báo
Cả dòng sông không biết nói
Cả cửa biển không lời thở than
Mùa thu về trên bến vắng
Có lẽ bài thơ “Đêm thu ở Hội An” nói trên là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Khoa Điềm trong hành trình thi ca gần bốn chục năm qua của ông. Đây là một bài thơ của thời “hiện đại” và cái hay của nó đã đạt tới mức… trở thành gần như “cổ điển” ngay lập tức khi dòng cuối của bài thơ khép lại. Người đọc có thể thấy ở bài thơ này cái không khí chiêm nghiệm trầm mặc, tĩnh tâm và tự tại trong thơ cổ của: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Phan Bội Châu…Và, độc giả cũng nhận thấy một phát hiện rất mới, rất hiện đại và độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm khi nhà thơ trong đêm thu Hội An ấy, không ngủ, thao thức ngồi đập muỗi, đợi một làn gió mặn và chợt nhận ra rằng: “Tất cả chúng ta rồi sẽ già nua/ Bên dòng sông tăm tối này/ Sẽ chết/ Mà không được đóng dấu kiểm dịch/ Đặng bình tâm trong miệng kẻ khác”. Đây là một trong số ít những câu thơ bình dị và lặng lẽ đau xót mà Nguyễn Khoa Điềm đã khắc tạc được vào tâm thế của người đọc hôm nay. Không chỉ có thế, với bài thơ này, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã một lần nữa xác định, trong những cách tân cho thi ca đương đại hôm nay thì xu hướng đổi mới thi ca trên bản sắc truyền thống, vẫn sẽ là một hướng đi có nhiều độc giả nhất và có nhiều triển vọng nhất trong số những cách tân đang được cổ vũ hôm nay.
Theo tôi, những bài thơ mới nhất của Nguyễn Khoa Điềm trong tập thơ “Cõi lặng” và những bài thơ công bố gần đây của ông, cho thấy một năng lực thơ tiềm tàng với những mong muốn đưa thi ca Việt Nam đến gần với những cách tân của thi ca thế giới. Trong xu hướng ấy, cần khẳng định một ưu điểm nữa của thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự tiếp cận của ngôn ngữ thơ hướng tới những vỉa tầng của hệ thống ngôn ngữ triết luận. Điều làm nên sự khác biệt giữa một nhà thơ và một triết gia chính là cái nhìn triết lý của nhà thơ được “mã hóa” bằng ngôn ngữ thi ca- ngôn ngữ của biểu tượng cảm xúc và tính suy tưởng. Với bài thơ “Nói với các nhà văn quá cố”, Nguyễn Khoa Điềm đã làm nên sự khác biệt ấy:
Tôi có điều may mắn
Là sau ngày các anh ra đi
Còn đọc được đôi ba quyển mới các anh chưa đọc
Vui với trận bóng đưa Việt Nam vào vô địch
Chăm chú theo dõi cuộc bầu cử tận nước Mỹ xa xôi
Nhận ra nhiều người già đi quá nhanh sau ngày vắng mặt
Tôi còn có thể đi bộ một mình trên phố dài
Từ hiệu sách đến quầy bán thức ăn cảnh
Để hỏi thăm về chữ nghĩa, cách cá đẻ trứng, đôi khi chỉ số thị trường chứng khoán (cái mà tôi mù tịt)
Và yên lòng mình chưa thua thiệt
Ngày cuối năm buồn tẻ
Tôi may mắn hơn các anh
Còn gặm được khúc xương chớm mùi hóa thạch
Trên những bản tin kinh tế ngọt ngào
Của đủ loại báo, đài, internet
Tôi nói thầm
Giá như các anh sống lại
Ngồi vào bàn viết, bên tô
Chắc các anh sẽ nheo mắt cười
Tha thứ cho chúng tôi đã sống dai đến vậy
Xả rác ở các nhà xuất bản nhiều đến vậy
Mà được gì cho cuộc sống hôm nay?
Còn tôi
Trong cơn mưa lạnh cuối năm như vãi cát vào mặt
Cúi xuống tờ giấy trắng trơ như cánh đồng sau vụ gặt
Nhớ đến những thợ cày lực lưỡng đã đi xa
Lòng quặn đau rằng đất không thể ở không
Giấy phải làm ra chữ
Kẻ đến sau lại phải vun trồng
Cho đến chết với từng hạt, từng hạt...
Qua sự liên tưởng giữa người cầm bút và người cày ruộng trong bài thơ trên, cái điều mà Nguyễn Khoa Điềm muốn gửi gắm, tâm sự với các bạn văn trên cánh đồng văn chương ấy, chính là sứ mệnh cao cả, là công việc vô cùng khó nhọc “lao tâm khổ tứ” của người cầm bút trong những tháng năm qua, khi nhà thơ tưởng nhớ tới những đàn anh văn chương đã một đời lao lực vì chữ nghĩa như “những thợ cày lực lưỡng” trên những thửa ruộng ngôn ngữ đã nhiều năm “mất mùa” với mơ ước chăm sóc, vun trồng từng hạt văn chương khi “đất ruộng không thể để không và giấy phải làm ra chữ”. Và, có lẽ sự chiêm nghiệm của thi ca đang hướng ông tới những chân mới của sự sáng tạo.

Nhà thơ Hữu Thỉnh-hàm súc về tư tưởng và tinh tế về cảm nhận
Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942, quê Tam Dương, Vĩnh Phúc, nhiều năm chiến đấu ở chiến trường phía Nam, tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du khóa 1, hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn VN, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT VN. Đã in 9 tập thơ: Âm vang chiến hào, Đường tới thành phố, Từ chiến hào tới thành phố, Thư mùa đông, Trường ca biển, Thơ Hữu Thỉnh, Sức bền của đất, Thương lượng với thời gian. Các giải thưởng văn học: Giải A cuộc thi thơ Báo Văn nghệ 1975-1976, Giải thưởng Hội Nhà văn VN 1980, Giải thưởng văn học ASEAN 1999, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 1994, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I năm2001.
Nhà thơ Hữu Thỉnh đã có nhiều thành tựu đóng góp cho thi ca chiến tranh qua những bài thơ và các trường ca khá nổi tiếng của ông gần 40 năm trước đây. Ở bài viết ngắn này, tôi chỉ đề cập đến những đóng góp của Hữu Thỉnh trong những phát hiện, tìm tòi, đổi mới cho thi ca Việt Nam sau chiến tranh. Theo tôi, viết về thơ Hữu Thỉnh, thật dễ mà cũng thật khó. Dễ là bởi nhiều bài thơ của ông thuộc loại thơ hay và hàm súc. Còn khó là bởi thơ Hữu Thỉnh có những đổi mới về thi pháp một cách có hệ thống từ đã lâu, nhưng các tìm tòi này thường được biểu đạt dưới dạng chuyển hóa rất nhuyễn các nhịp điệu của thi ca truyền thống để hướng tới một cách nói mới, giầu nội hàm tư tưởng hơn cách nói cũ nghiêng về phía bộc lộ cảm xúc của người viết. Thật ra, để đạt được sự hài hòa giữa tính cảm xúc và tính tư tưởng trong sáng tạo thi ca, người viết phải có một phẩm chất tài năng thật sự và phải có sự trải nghiệm cả về mặt kinh nghiệm đời sống và văn chương.
Người làm thơ hiện nay quá nhiều, nhưng chỉ những người có phẩm chất thi sĩ-phẩm chất của tài năng mới làm nên những gương mặt thơ đặc sắc, độc đáo để tạo nên sự khác biệt giữa nền và đỉnh. Hữu Thỉnh là một trong số ít nhà thơ giầu có chất thi sĩ mà bài thơ “Chạm cốc với Xa-in” là một ví dụ:
Dãy núi A-la-tau có vẽ mặt đáng kính của một nỗi buồn
Nho lại bắt đầu, không có gì mới
Xin nâng chén vì anh! Ta chúc những gì đây
Tuyết quê anh nhiều, xin cho tôi như tuyết
Những đôi trai gái ôm hoa vào phòng cưới
Họ yêu nhau không có kinh nghiệm gì
Họ nhảy và hát không có kinh nghiệm gì?
Họ chia tay nhau không có kinh nghiệm gì
Tôi và anh không có kinh nghiệm gì
Càng viết càng thấy mình yếu đuối
Đường nhân nghĩa chừng nào còn lắm bụi
Anh hiểu vì sao tôi ít lời
Anh hiểu vì sao tôi hay nhắc mẹ tôi
Nỗi ám ảnh suốt đời day dứt
Đối với mẹ sẽ là đòn đau nhất
Có kẻ nào rình ném bẩn lên tôi
Giữa tiệc rượu và hoa, tưởng chừng không đúng lúc
Nhắc đến nỗi đau những uất ức ở đời
Làm sao được, rượu hoa thường ít
So với chia ly, gian dối, dập vùi
Miếng cơm manh áo che khuất mẹ tôi
Sự vô tình che khuất mẹ
Người thường vắng mặt trong các cuộc vui
Tóc bay trắng trong buổi chiều gió bạc
Thơ mỗi ngày người càng ít đọc hơn
Nhưng con chọn thứ vũ khí này bênh vực mẹ
Con đi trong mưa, mài trên đá
Gặp niềm vui càng thương mẹ nhiều hơn
Xa-in ơi, anh không có vỏ bọc nào đáng ngại
Sống mỗi ngày nguyên chất cho thơ
Xin nâng chén mừng anh/Hoa táo nở
Trong bài thơ trên, khi nhà thơ phải chọn thơ làm thứ vũ khí để bênh vực người mẹ của mình đã có lúc bị sự vô tình của miếng cơm manh áo che khuất trong cuộc đời, thì đấy có lẽ là nỗi đau lớn nhất của người con, nhất là khi người mẹ đang bị ám ảnh trước việc người con của mình đang phải nếm trải nỗi đau đớn khi bị kẻ khác “rình ném bẩn” lên thanh danh. Bài thơ đã mang lại cho người đọc sự bất ngờ sau mỗi đoạn thơ, khi nhà thơ liên tưởng việc những đôi trái gái yêu nhau và chia tay nhau không có kinh nghiệm gì cũng như việc những người cầm bút càng viết càng thấy mình yếu đuối, bởi không có kinh nghiệm gì trên nẻo đường nhân tình thế thái đầy bất trắc và còn nhiều bụi bặm. Các hình ảnh liên tưởng và những suy tư giầu chất nhân văn trong thơ Hữu Thỉnh thường mang lại các phát hiện rất bất ngờ, khiến cho những câu thơ tài hoa của anh phát sáng ở các chiều kích khác nhau.
Cái nét mới nổi trội trong thơ Hữu Thỉnh chính là những cuộc đối thoại rất sinh động và mang màu sắc triết lý của nhà thơ với thiên nhiên, với cuộc sống, với con người…để bồi đắp cho vẻ đẹp chân-thiện-mỹ mà thi ca ngàn đời vẫn hướng tới. Đấy là khi nhà thơ:
Bất chợt
được sưởi ấm
từ những ai không quen biết qua đường
Bất chợt
đọc tiểu sử của dòng sông
trên đất lấm cuốc cày chưa kịp rửa
Bất chợt
những cánh chim vụt hiện
vẽ đường đi vô định của con người
Trong nhiều bài thơ ngắn tương tự như bài “Bất chợt” này, vẻ đẹp minh triết của tư duy thơ hiện đại đã hiện dần ra trên cái nền nhịp điệu cảm xúc tinh tế của thi ca truyền thống và theo tôi, đấy chính là phong cách thơ Hữu Thỉnh, đậm đặc chất thi sĩ và hàm súc về mặt tư tưởng:
Thu hết mọi tiếng chuông thành một sắc áo vàng
Cõi thiện xa xăm câu kinh vượt dốc
Bao nhiêu kỳ quan che không kín những gì lầm lạc
Mây vừa đi vừa ngoái lại trông người
Bài thơ “Ngẫu cảm” này, một lần nữa cho chúng ta thấy xu hướng tìm tòi, đổi mới luôn là những trăn trở trong thơ của Hữu Thỉnh sau chiến tranh.
Cho đến hôm nay, những nhà thơ trữ tình một thời say đắm của chúng ta dường như cũng đã thấy được sự mòn mỏi trong nhịp điệu cũ kỹ của cảm xúc thơ. Phải chăng, đã đến lúc thi ca cần phải cởi bỏ chiếc áo cũ sờn của một thói quen ngôn ngữ để làm nên một giọng điệu mới mẻ hơn, khỏe khoắn hơn, minh triết hơn và gần gũi với con người hiện đại hơn. Và, trong số những nhà thơ nổi tiếng đã phát lộ văn tài trong chiến tranh, tôi vẫn thấy một Hữu Thỉnh, một Nguyễn Khoa Điềm, một Thanh Thảo… với những tìm tòi không chịu ngưng nghỉ , vẫn đang song hành cùng với thế hệ thơ hậu chiến trong hành trình đổi mới thơ Việt ở những thập niên đầu của thế kỷ XXI này.
Bản quyền © 2012 Yahoo! Southeast Asia Pte. Ltd. (Co. Reg. No. 1999700735D). Giữ toàn quyền.

