<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[Chuối cả nải]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk]]></link>
        <description><![CDATA[Blog của Đào Tuấn, một &quot;phóng viên không lề&quot;]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2012/03/27 23:56:29</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Bệnh nan y của ngành y]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5805]]></link>
            <description><![CDATA[Y học cổ truyền liệt lao, cùng với phong, cổ (cổ chướng),
lại (ung thư) là “tứ chứng nan y”, là “thầy thuốc bỏ đi, trống kèn kéo tới”. Nhưng
dù là bệnh gây tử vong hàng đầu trong các bệnh truyền nhiễm, từ những năm 80 của
thế kỷ trước, đã có thuốc trụ sinh đặc biệt dành cho căn bệnh này và đặc biệt,
bệnh lao có thể chữa khỏi hẳn. Nói theo cách “thành ngữ @”, bây giờ “chết vì
lao là cái chết tào lao”.
Ấy vậy mà 3 ngày trước khi Bộ trưởng Bộ Y tế đăng đàn trả lời chất vấn, có một
con số kinh hoàng liên quan đến căn bệnh này đã được đưa ra: 30.000 người chết
mỗi năm. Bình quân 82 người chết mỗi ngày. Một tờ báo đã so sánh số người tử
vong vì lao “bằng tai nạn giao thông và HIV/AIDS cộng lại”. Nếu nói tai nạn giao thông là quốc nạn, là sóng thần thì tử vong vì lao
là quốc nạn của quốc nạn, là sóng thần của sóng thần. 
Ấy vậy mà ở Việt Nam, theo điều tra dịch tễ từ cách đây 5 năm, tỷ lệ mắc lao
phổi dương tính cao gấp 1,6
lần so với ước tính 90/100 ngàn dân của Tổ chức Y tế thế giới. Việt Nam cũng có tên trong cả 2 danh sách các nước có
gánh nặng bệnh lao và gánh nặng lao đa kháng thuốc.
Ấy vậy mà khi mặc
vest, cài ruy băng, thắt khăn đỏ, đứng trên nghị trường, bà Bộ trưởng Bộ Y tế
chỉ duy nhất một lần nhắc đến chữ “lao”. Nhưng đó là lời kêu khó về tình trạng
khan hiếm nhân lực trong ngành lao, không kèm theo giải thích nguyên nhân.
Còn nhớ năm ngoái, PGS.TS Đinh Ngọc
Sỹ, Chủ nhiệm chương trình chống Lao Quốc gia, TS Đinh Ngọc Sỹ chua chát
bảo: “Cán bộ làm công tác chống lao đang “già đi” do không có người thay thế &nbsp;trong khi bệnh lao lại đang “trẻ lại”. Tỷ lệ bác sĩ
lao chỉ 1,58/100.000
dân, có lẽ còn ít hơn cả tỷ lệ bác sĩ pháp y. Cùng với các thần kinh, ngoại thần kinh, sản, tâm thần, lao cũng là một
trong những chuyên khoa thiếu trầm trọng nhất. Và sự thiếu hụt này được TS Sỹ
đánh giá “Chính là nguyên nhân sâu xa của việc chỉ có khoảng một nửa số bệnh
nhân lao được phát hiện”.
Liệu có thể nào
trong suốt 10 năm mà một bệnh viên lao- phổi không tuyển mới nổi một bác sĩ
chuyên khoa?
Sự khan hiếm
nhân lực trong ngành lao thực ra đã được kêu ca từ không mười cũng bảy năm trước. Nhưng trong từng đó năm, ngành y tế đã làm gì, ngoài chuyện
kêu ca. Trước nghị trường, Bộ trưởng Bộ Y tế mười mấy lần nhắc đến hai chữ
“kinh phí”, đã liệt kê ra vô số những nhóm giải pháp với giải pháp. Nhưng quanh
đi quẩn lại toàn chỉ thấy chuyện “tiền”. Để có tiền, có nguồn thu, bà đã kê ra
đến 5 gạch đầu dòng. Nhưng người dân nói chung và người bệnh nói riêng nghe đi,
nghe lại cuối cùng vẫn chỉ là tiền hoặc trực tiếp từ các khoản thu “bổ đầu bệnh
nhân”- được gọi là viện phí, hoặc gián tiếp qua ngân sách- thực ra cũng là thuế
do người dân đóng góp.
Nếu như tỷ lệ giường bệnh ở Việt Nam, chỉ 20,5/1 vạn, một tình trạng mà báo chí
gọi là “cá hộp” đang chỉ phản ánh mức độ “khốn khổ vật lý” thì tỷ lệ bác sĩ/1 vạn
dân đang cho thấy cái “giá sinh mạng bình quân” đang quá rẻ mạt. Năm 2003, dưới thời Bộ trưởng Trần Thị Trung Chiến, các cuộc khảo sát
cho thấy 1 vạn dân Việt Nam mới chỉ có được 5,88 bác sĩ và 0,7 dược sĩ. Trong
suốt gần 10 năm qua, tỷ lệ này mới “nhúc nhích tí chút” với chưa đầy 7 bác sĩ/1
vạn dân. Tỷ lệ bình quân này không phản ánh chất lượng chăm sóc y tế khi hầu hết
các bác sĩ đều đang ở các BV tỉnh, thành phố. Tỷ lệ “Bác sĩ làng”, chẳng hạn&nbsp; như ở Đồng Tháp chỉ đạt 4,2/1 vạn dân. Lai
Châu, tỷ lệ này thậm chí chỉ 3,3/1 vạn dân. Một tỷ lệ thấp vào loại nhất thế giới. Riêng
chuyên khoa lao, chỉ có 1,5 bác sĩ/ 1 vạn dân, với một
số lượng “đếm trên đầu ngón tay”, trong tình trạng “cứ 10 người dân có 4 người
nhiễm lao”. Nếu
không có một chính sách đúng, và kịp thời, bác sĩ lao ở Việt Nam, nói không ngoa- chẳng mấy mà tiệt chủng. Khi đó, những từ ngữ như “quốc nạn”
hay “sóng thần” cũng không đủ để mô tả thảm họa do căn bệnh- 4 thập kỷ qua đã
không còn là một trong “tứ chứng nan y”- gây ra.
Bởi vậy ngành y tế không thể chống lao chỉ bằng cách phát hành tem thư. Không thể “thanh toán bệnh lao vào năm 2030” chỉ bằng những lời kể khổ. Và
rõ ràng viện
phí, dù tăng thế, tăng nữa, tăng mãi, hoàn toàn không phải là lời
giải, là phương thuốc cho căn bệnh nhân sự đang thiếu hụt
trầm trọng của
ngành y tế, đặc biệt là chuyên khoa lao.]]></description>
            <pubDate>2012/03/28 01:54:24</pubDate>
            <guid><![CDATA[Bệnh nan y của ngành y:5805]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Phiếu xanh, phiếu đỏ]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5802]]></link>
            <description><![CDATA[Ngày 21-8-2006, diễn đàn Quốc hội nóng lên với chuyện
“tín nhiệm”. Đó là thời điểm dư luận, báo chí, và bản thân các vị đại biểu QH
đang rất bức xúc về vụ đánh bạc và tham nhũng tại PMU 18. Trường hợp Bộ trưởng
Bộ GTVT&nbsp; khi đó được các vị đại biểu QH
cho là “có vấn đề”. ĐBQH Nguyễn Thị Vân Lan thậm chí nêu đích danh Bộ trưởng
Đào Đình Bình với đề nghị “Thường vụ Quốc
hội nên tổ chức lấy ý kiến bỏ phiếu tín nhiệm, chứ không nhất thiết phải có 20%
tổng số đại biểu kiến nghị&quot;.
Kết quả thì ai cũng biết: Chưa từng có cuộc bỏ phiếu tín nhiệm nào diễn ra ở
Quốc hội Việt Nam kể từ khi Luật tổ chức QH có hiệu lực vào năm 2002.
Tuần qua, dư luận lại một lần nữa nóng lên, trước là vì thông cáo của Ủy ban
thường vụ QH về việc sẽ bỏ phiếu tín nhiệm với các chức danh cao cấp nhất, sau
là phát biểu của Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị. “Kết quả bỏ phiếu được công bố công khai. Người không
đủ số phiếu tín nhiệm quá bán so với tổng số đại biểu QH 2 lần liên tiếp sẽ
được xem xét, trình Quốc hội miễn nhiệm hoặc từ chức”- Chủ nhiệm Văn phòng Quốc
hội trịnh trọng nói. &nbsp;“Theo cơ chế mới,
nhiều người cùng đánh giá một người thì khách quan hơn, ai mà né tránh không
tham gia thì cũng bị đánh giá. Nếu sau 2 năm tín nhiệm quá thấp thì cũng phải
thôi chức. Tôi sẵn sàng chịu bỏ phiếu tín nhiệm”- Bí thư Thành ủy Hà Nội nói.
Nhưng vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm cũng không phải là điều gì quá lạ, quá mới. Chỉ
có điều, không ai biết trong số các lá phiếu đã từng được bỏ, cái nào là phiếu
xanh, cái nào là phiếu đỏ. Và kết quả thì chưa chắc đã phản ánh chính xác sự
“tín nhiệm”. 
Còn nhớ năm 2006, ở chính Hà Nội, MTTQ TP
đã tổ chức hàng loạt các hội nghị bỏ phiếu
tín nhiệm,
tự nhận là “làm tốt nhất”, “bài bản nhất”- với các chức danh “hàng xã”. Kết quả, chẳng có gì bất ngờ: 71,3% chủ tịch UBND xã
đạt tín nhiệm từ 90-100%; tỷ lệ này đối với chủ tịch HĐND là 69,5%, với trưởng
thôn là 64,05%. Nói chính xác hơn thì phải là “99% cán bộ chủ chốt xã phường có
số phiếu tín nhiệm đều đạt. 70% cán bộ đạt số phiếu tín nhiệm từ 90-100%”. Một
kết quả mà ngay chính một quan chức của Mặt trận cũng cho là “Chưa thực chất”. “Cán
bộ tốt như vậy, sao người dân còn khiếu kiện vượt cấp, kêu ca nhiều? Để xảy ra
những vụ việc nhức nhối về xây dựng như phường Trúc Bạch, Bạch Mai mà cán bộ
vẫn được đánh giá tốt là có “vấn đề”- Phó Chủ tịch Mặt trận Phạm Ngọc Thảo nói.
Chỉ có 20 trưởng thôn, 3 chủ tịch HĐND và 1 Chủ tịch có số phiếu thấp hơn 50%.
Nhưng đối với các trường hợp phiếu thấp “cấp trên lại đề nghị không bãi miễn,
có trường hợp đề nghị cho “bảo lưu” để phấn đấu”- ông Thảo nói.
Cũng cần phải nói thêm, những người được quyền bỏ phiếu đều là các “đại cử
tri”, nhưng là các “đại cử tri” do chính quyền chỉ định, chứ không phải do dân
bầu.
Việc quan lại “hàng xã”- quyền chỉ hơn “thảo dân” tí chút, mà đã có chuyện nể
nang, chuyện “bảo lưu”, chuyện “phiếu xanh phiếu đỏ”, huống chi ở cấp cao hơn,
thậm chí những chức danh nguyên thủ.
Dẫu sao, việc bỏ phiếu tín nhiệm tại QH, và định kỳ 2 năm sắp tới tại Thủ đô
cũng đáng được đánh giá là một đổi mới tích cực. Quốc hội sẽ thực quyền hơn.
Nhưng vấn đề là chưa có gì đảm bảo việc bỏ phiếu sẽ thực sự “mang tính cách
mạng”, mà không tiếp tục rơi vào sự hình thức! 
Nếu muốn việc bỏ phiếu tại QH sẽ không hình thức và không rơi vào tình trạng
“Không thể thực hiện” thực ra chỉ cần sửa một số 0 trong Luật: “Chỉ cần 2 đại biểu (thay vì 20% số đại biểu) có văn bản hoặc kiến nghị trực tiếp trên hội trường
về việc bỏ phiếu tín nhiệm thì Thường vụ Quốc hội cần xem xét, tổ chức lấy ý
kiến đại biểu”. Đây là ý kiến phát biểu trực tiếp tại nghị trường của ĐBQH Trần Công
Kích vào năm 2006.
Nếu muốn việc bỏ phiếu tín nhiệm định kỳ 2 năm không phải là chuyện “phiếu
xanh, phiếu đỏ”, cũng chỉ cần bỏ bớt một chữ “đại” trong số các cử tri có quyền
được bầu. Còn nhớ khi thảo luận về Luật tổ chức QH (sửa đổi) tháng 8-2006, đại
biểu QH Lê Văn Cuông đã đề nghị “Cần có
cả cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm và cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với các chức
danh do QH bầu hoặc phê chuẩn”. “Khi có những vấn đề báo chí, dư luận không đồng tình, chỉ cần một tỉ lệ ĐB có ý kiến đề
nghị thì cũng phải tiến hành bỏ phiếu, nhưng là bỏ phiếu… bất tín nhiệm … như vậy sẽ không còn chuyện đánh đồng giữa những bộ trưởng làm
việc tốt với một vài bộ trưởng “có vấn đề” như vừa qua” - ông Cuông nói. 
Việc tiến hành định kỳ bỏ phiếu tín nhiệm đối với quan chức cần làm, nhưng điều
cần làm ngay, nhất thiết phải làm là việc bỏ phiếu “bất tín nhiệm” đối với
những trường hợp “có vấn đề”, để các quan chức không thể dễ dàng “không làm gì
cả”, hoặc ban hành những chính sách bị dân chửi bới thậm tệ mà vẫn “Kệ thôi”.]]></description>
            <pubDate>2012/03/27 10:00:24</pubDate>
            <guid><![CDATA[Phiếu xanh, phiếu đỏ:5802]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Khoảng trống và phiếu chống]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5799]]></link>
            <description><![CDATA[Năm 2001, Hà Nội ra quyết định cấm toàn bộ xe xích lô sau vài năm cấm ở vài
tuyến phố&nbsp;. Sau này, Giám đốc CA Hà Nội tướng Phạm Chuyên, một trong số
các tác giả của &nbsp;lệnh cấm&nbsp;, dù vẫn cho rằng&nbsp;:&nbsp;Chính
phủ phải có chính sách khả thi với việc hạn chế xe máy ở các thành phố lớn”- như Hà Nội đã từng hạn chế xích lô, nhưng
ông cũng nói tới trách nhiệm của nhà nước đối với xây dựng cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải công cộng như một
điều kiện tiên quyết. “Phải làm thật tốt đã rồi mới nói được người dân. Thế
mới công bằng. Đừng cứ nói đến tai nạn, ùn tắc thì đổ hết lỗi cho dân&quot;.
Hôm qua, một bức ảnh lạ, hình một người đàn ông “cưỡi ngựa còi”&nbsp; ngay giữa
thủ đô Bắc Kinh được đăng tải trên một tờ báo chính thống . Bức ảnh sau đó được đưa lên mạng xã hội và nhận được
vô số những lời bình luận. Hình như ngựa, sau vài tháng nữa-&nbsp; sẽ phổ biến trong các thành phố lớn ở Việt
Nam. Hoặc xe trâu chẳng hạn. 
Bức ảnh rõ ràng không ngẫu nhiên xuất hiện. Tuần rồi, hai tin xấu đồng loạt đổ ập
xuống đầu dân chúng: Phí bảo trì đường bộ đã được chính thức quyết định. Chưa đầy 72h sau đó, Bộ GTVT, cương
quyết đến kinh ngạc, tiếp tục đệ trình phí lưu hành phương tiện. Bộ trưởng
Thăng thậm chí “đổi toẹt tên” thành ra phí hạn chế phương tiện cá nhân.
Đối với ô tô, Bộ GTVT tiên đoán “Sẽ có một bộ phận người dân mặc dù đủ
khả năng mua ô tô cá nhân nhưng không chịu nổi mức phí đóng hằng năm, khi đó họ
sẽ phải lựa chọn phương tiện khác thay thế”. Điều này thì khỏi phải bàn cãi khi các loại “phí lăn bánh” sẽ khiến
những chủ xe nghèo nhất nhì thế giới sẽ phải bỏ ra đến 60 triệu đồng mỗi năm để
có thể sử dụng loại phương tiện mà thế giới đã bắt đầu sử dụng từ năm 1885. 
Người dân sẽ phải bỏ ô tô, khẳng định chắc chắn, để đi xe máy.
Nhưng xe máy cũng đang chịu sự ghẻ lạnh không kém từ Bộ trưởng Thăng. Nào là “Sẽ
phải cấm xe gắn máy ở trung tâm Hà Nội và TP HCM”. Rồi thì&nbsp; “Hạn chế xe cá nhân là một chủ trương
lớn và nhất định chúng ta phải thực hiện nhằm đẩy lùi tình trạng ùn tắc giao
thông”.
Chuyện áp phí đến mức “không thể đi” đối với ô tô và “cấm tiệt xe máy” sẽ là
chuyện một sớm một chiều. Cấm quá dễ, đôi khi chỉ cầm cắm biển cấm và “sử dụng
anh hùng Núp”- như cách nói của cư dân mạng. Nhưng câu hỏi không thể không đặt
ra là người dân sẽ đi bằng gì?
Cùng với tuyên bố sẽ “hạn chế ô tô, tiến tới cấm toàn bộ xe máy ở 2 TP lớn”, Bộ
trưởng Thăng cũng nói tới “việc tăng cường vận tải công cộng, đầu tư cơ
sở hạ tầng, tàu điện ngầm và đường sắt trên cao”.
Có điều, tất cả chuyện công cộng, từ hạ tầng đến phương tiện- đều ở thì tương
lai. Thứ duy nhất trong phạm trù “vận tải hành khách công cộng” đang hiện hữu
là những chiếc xe bus. Loại phương tiện mà dân gian gọi là “Quan tài bay”. Loại
“vận tải công cộng” mà Bộ trưởng Thăng từng bắt nhân viên ngành giao thông phải
sử dụng “ít nhất một ngày trong tuần”. Và có lần, chắc buột miệng, Bộ trưởng đã thật thà:
Đến tôi cũng không đi nổi xe bus.
Năm 2001, khi cấm toàn bộ xe xích lô, Hà Nội đã gặp may khi bỗng nhiên có một
giải pháp từ trên trời rơi xuống”: “Làn sóng Loncin” ào ạt đổ vào Việt Nam với
giá chỉ gấp 3 một chiếc xích lô. Có điều xích lô bấy giờ chỉ là phương tiện kiếm
cơm của vài ngàn người dân, chứ không phải là 28 triệu đôi chân- chiếc cần câu
cơm như của 40% trong số 90 triệu dân bây giờ. Và chiếc “quan tài bay”, rõ ràng
không thể thay thế cho chiếc Loncin Tàu.
Chính xác là đang có một cách áp đặt chính sách ngược đời khi Bộ GTVT hạn chế,
thực chất là cấm phương tiện tư nhân, trước khi hoàn thiện xong vận tải công cộng.
Cũng cần phải nói thêm, phí hạn chế phương tiện cá nhân là một trong nhóm những
biện pháp giảm ùn tắc, chủ yếu ở 2 TP: Hà Nội và TP HCM. Nhưng đây là một “khoảng
trống” bất hợp lý của chính sách. Bởi như thế, người dân, trừ Hà Nội và TP HCM,
nhất là gần 70% nông dân sống ở nông thôn, lại đang phải đóng phí cắt cổ để trả
giá cho những bất cập về quy hoạch và phát&nbsp;
triển hạ tầng của HN và TP HCM?
Vì thế, nếu thực sự có một cuộc trưng cầu như hứa hẹn của các chính khách sống ở
thành phố, “khoảng trống” này chắc chắn sẽ nhận được “phiếu chống”.
Năm 2008, Bộ NN và PTNT đã công bố một thông tin khiến nhiều người ngậm ngùi:
Nông dân, ngoài chuyện phải nộp các loại phí và lệ phí, như tất cả những người
không phải nông dân, còn phải nộp 30-50 khoản phí khác không nằm trong danh mục.
Nhưng khoản phí vô lý nhất, có lẽ mới chỉ sắp xuất hiện, nông dân ở nông thôn sẽ
phải đóng phí hạn chế phương tiện cá nhân để chống ùn tắc cho Thành phố.]]></description>
            <pubDate>2012/03/24 01:20:26</pubDate>
            <guid><![CDATA[Khoảng trống và phiếu chống:5799]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Người đi chợ vĩ đại]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5798]]></link>
            <description><![CDATA[Nhà
báo Lê Thọ Bình có lần đã kể về “giai thoại cá khô” của ông Trương Đình Tuyển.
Đại khái đó là một vị “thái thú” ở trong một căn phòng tập thể “sực nức mùi cá
khô”, quần sắn móng lợn, chân đi dép tông, tự đạp xe đi chợ Quán Lau, cơm với
“mấy con cá khô chỏng chơ”, sáng
dậy cho vo gạo, cắm phích, cho thêm mấy con cá khô vào thành bửa sáng. Trưa, tối
về cắm cho nóng lên thành bữa trưa, tối. “Rất chi là tiện”.
Có lẽ “rất chi là rẻ” nữa.
Rất nhiều ngợi ca ông Tuyển, một vị quan giản dị, liêm chính- dù ngay những người
ngợi ca cũng thấy rằng sống với cá khô, xe đạp, tiện thì tiện thật nhưng như thế
không thể gọi là cuộc sống- mà thiếu chữ tạm.
Tháng 8-2002, sau 2 năm “cá khô và xe đạp”, “Thái thú” Tuyển tái nhiệm chức vụ
Bộ trưởng Bộ Thương mại và là một trong những “tác giả” trong cuộc đua vào WTO
của Việt Nam. 
Hình như cũng chẳng có mấy vị thượng thư, thái thú “đi chợ”. Ngay cả ông Tuyển,
khi về lại làm “thượng thư” cũng không còn nghe chuyện ông “đi chợ” nữa. Có lẽ
cũng chính vì thế, ngay sau khi “trúng số” WTO, thậm chí còn chưa qua giai đoạn
“cửa sổ” 5 năm, thuế thu nhập cá nhân đã được đặt ra với tuyên bố “Cải cách
cơ cấu nguồn thu ngân sách”, mà cụ thể
là tăng thu, để đảm bảo lộ trình và quan trọng hơn, để
bù cho những loại thuế sẽ phải cắt giảm sau “chiến thắng WTO”.
Không ai buộc các bí thư, bộ trưởng phải đi chợ. Nhưng hình như chuyện đi chợ mấy
năm nay lại được nói đến quá nhiều. 
24-10-2007, tại nghị trường
QH, đại biểu QH TP HCM, bà Dao Nhiễu Linh, sau khi giới thiệu “Là một người hằng ngày phải đi chợ” đã phát
biểu: &quot;Ở TP HCM, chi phí ăn, mặc, ở thấp nhất của một người cũng 6 triệu đồng,
chưa kể người phụ thuộc. Như vậy, mức chịu thuế khởi điểm nên ở mức 6-8 triệu đồng.
Dân giàu nước mới mạnh, nếu lấy khởi điểm 4 triệu đồng áp dụng từ năm 2009 thì
luật chưa ban hành đã lạc hậu&quot;.
Trong suốt 1 năm trước đó, dự án luật thuế này đã gây vô số tranh cãi. Đáng chú
ý nhất là những quan ngại của một người nước ngoài chưa- từng- đi- chợ- ở- Việt
Nam- ông Martin Ram, về việc chúng ta đã “đi quá nhanh” xung quanh việc đưa ra
loại thuế, có bản chất như một thứ thuế thân- “đánh vào bất cứ khoản thu nhập
nào”. “ Ðây là loại thuế làm tăng nguồn thu nhưng tương đối thấp và khuyến
khích việc thoái thác chính thức hoá”-Quyền Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt
Nam nói.
Đó đây có những phát biểu đại ý do đây là luật thuế liên quan đến quảng đại quần
chúng nên sẽ quyết theo ý dân. Thậm chí, một vị phó Tổng cục trưởng còn nhắc đến
chuyện trưng cầu dân ý.&nbsp; Nhưng kết quả cuối
cùng thì ai cũng biết, ngày 20-11-2007, Quốc hội, gồm đa số những người không
đi chợ- dù là đại biểu dân cử, đã thông qua luật thuế này với mức khởi điểm chịu
thuế là 4 triệu đồng và giảm trừ gia cảnh 1,6 triệu đồng, thấp nhất trong số
các phương án. Cũng ngày
hôm đó, giá gạo tẻ thường có mức 5.600- 6000 đồng/kg.
Nỗi lo lạc hậu hóa ra không hề thừa bời lạm phát ngay sau đó đã “cười khẩy”
với&nbsp; con số tuyệt đối 4 triệu đồng . Không
ai chết vì phải nộp thuế thu nhập cá nhân, khẳng định chắc chắn, nhưng khoảng 1,5%
dân số đóng thuế khốn khó hơn nhiều, bởi từ thời điểm Luật được đưa ra QH lần
đầu năm 2006 đến nay, lạm phát đã “đạt” &nbsp;mức cộng dồn 70%.
Câu chuyện ngoài chợ sau đó được nhắc tới thêm hai lần. Phó
Chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên có lần tâm sự với báo chí: “Vợ tôi cũng hay than thở về chuyện mang 100 ngàn đồng ra chợ không biết mua cái gì. Tôi bảo
trong 100 ngàn đồng ấy, bà và mọi người phải tính toán cho phù hợp. ..”. Còn Bộ
trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh, thì: “Đương nhiên đã lạm phát thì toàn dân phải
chịu khó khăn, vì cầm cùng số tiền ấy ra chợ mà giá cao thì mua được ít hàng
hơn, ăn uống phải chặt chẽ hơn, tất cả các thứ phải thắt chặt hơn. Trong từng
gia đình cũng thế thôi, vợ tôi đi chợ về cũng kêu ghê lắm”.
Khổ thân những người nghèo. 100 ngàn đồng, bằng ¼ thu nhập của một hộ nghèo
nông thôn, 1/5 thu nhập hộ nghèo thành phố mà “ra chợ không biết mua cái gì”
thì không biết người nghèo ra chợ sẽ mua cái gì? Đến vợ các vị thượng thư với mức
“lương 8 chấm” còn kêu ca thì dân chúng chắc không còn hơi sức mà khóc.
Khổ thân cho những bà nội trợ, ngoài chuyện đương nhiên phải nấu ăn ngon, phải
biết làm toán, giờ còn phải biết thắt dây chuối nữa.
Đi chợ đại khái vừa là một “bổ đề cơ bản” cần phải chứng minh mà những bà nội
trợ xứ ta đáng được tặng Fields.
Nhưng đến ngày 20-3 vừa qua, đã xuất hiện một “người đi chợ vĩ đại”: Bà thứ trưởng
Bộ Tài chính Vũ Thị Mai. Trả lời phỏng vấn Tuổi trẻ, bà Mai, người xuất thân từ
dân ngành thuế, khẳng định việc nâng mức giảm trừ gia cảnh từ 1,6 triệu
đồng/tháng lên 2,4 triệu đồng/tháng- như dự thảo Bộ Tài chính dự kiến: “Đã được
xem là khoan sức dân rồi”. (Một quan chức, vào đúng ngày 8-3, thậm chí còn “làm
thơ” đối với sắc thuế trực thu này rằng: Hy vọng việc sửa đổi luật này góp phần
làm nồi cơm của gia đình sẽ đầy hơn, chị em sẽ vui hơn”!!!).
Đã thế, vào hôm Bộ Tài chính họp báo
công bố dự thảo, dù thừa nhận đã lạc hậu, dự luật sửa đổi này, dự kiến, lại chỉ
được áp dụng từ 1-4-2014. Đã thế những con số 6 triệu và 2,4 triệu tuyệt đối
này, dự kiến kéo dài 5 năm, ít nhất đến 2018.
Đang có một cách “đi chợ” rất khác nhau giữa người dân và các quan chức.
Giá gạo tẻ thường trong ngày bà Mai nói chuyện
“khoan sức dân” ở mức 12-13 ngàn đồng/kg, gấp 3 lần “giá gạo dự thảo”, gấp 2
lần “giá gạo thông qua”. 6 năm trước, vị đại biểu dân cử, cũng là một phụ
nữ đi chợ, bà Dao Nhiễu Linh đã nói trước QH mức 6 triệu đồng mỗi tháng chỉ là
tối thiểu đối với một người độc thân ở thành phố. Thế mà bây giờ, người nội trợ
mang hàm thứ trưởng Vũ Thị Mai lại cho rằng con số đó còn là “khoan sức dân”
trong thì tương lai 2 năm sau và đằng đẵng 5 năm tiếp sau đó.
Không ai biết 2 năm nữa giá gạo sẽ là bao nhiêu. Không ai biết sau đây 5-7 năm, trước sự hung
hãn của lạm phát, giá trị của 6 triệu còn mua được bao nhiêu. Chỉ biết bây giờ
không ai sống bằng cá khô và xe đạp như Bộ trưởng Tuyển nữa, vì thế,
không thể áp “mức sống cá khô” để quy ra mức khởi điểm chịu thuế.
Sẽ rất ngoa ngoắt nếu nói năm 2018, mà gần hơn là 2014, với 6 triệu đồng, người
dân còn không đủ đảm bảo “cuộc sống cá khô”, thậm chí không còn sức mà đạp xe.
Nhưng lại càng không thể buộc người dân phải đóng thuế trong tình trạng “sống
cá khô và xe đạp”, không được phép ốm đau, không thăm nom hiếu hỉ, không vui
chơi giải trí. Bởi với 6 triệu đồng mỗi tháng cho lao động chính và 2,4 triệu
cho “tàu há mồm” ngay thời điểm này cũng chỉ đảm bảo một cuộc sống cá khô tối
thiểu, ăn lạm vào tương lai khi không một xu tích lũy và phải đóng thuế trước
khi cầm dây chuối sách làn ra chợ.
Sống mà chỉ ăn ngủ thì ngay cả chữ tạm có lẽ cũng còn là xa xỉ.]]></description>
            <pubDate>2012/03/23 10:32:24</pubDate>
            <guid><![CDATA[Người đi chợ vĩ đại:5798]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[100 triệu đồng của ông Trưởng phòng và ngôi biệt thự của ngài Thị trưởng]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5797]]></link>
            <description><![CDATA[Tháng 5-2008, sau sự kiện “Chủ tịch Cao Bằng Lô Ích
Giang trả lại quà biếu”, &nbsp;đại biểu QH
Dương Trung Quốc nhắc lại câu chuyện ông chủ tịch TP Hà Nội Hoàng Văn Nghiên “mang bạc
tỷ đến trình báo, nhưng các năm sau đó không thấy ông ấy trình báo và nộp
lại quà biếu nữa”. Những trường hợp, rất hiếm- trình nộp lại quà biếu, thực chất
là nộp lại của hối lộ, được vị đại biểu QH nổi tiếng thẳng thắn bình luận theo
kiểu dân gian là “chỉ có bị lộ hay không bị lộ&nbsp;
mà thôi”.
Việc Chủ tịch của Thủ đô không thấy nộp lại quà biếu nữa dường như có liên quan
ít nhiều đến ngôi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa. Năm 2001, ông Nghiên được thuê
lại biệt thự này với giá 500 ngàn đồng/tháng, (trong khi “một ngày trước đó” còn được cho thuê với giá 5000 USD/tháng).
Tháng 8-2006, ông làm đơn&nbsp; xin mua theo
nghị định 61 với giá 1,3 triệu đồng/m2. Báo Tiền Phong ước tính với “giá hóa
giá”, ngôi biệt thự có giá chưa tới 1 tỷ đồng, bằng 10 tháng cho người nước
ngoài thuê, trong khi giá trị thực tối thiểu 1,5 triệu USD.
Đến tận tháng 9-2007 ông Nghiên mới tuyên bố “trả lại”. Và 5 năm sau lời tuyên
bố, đến tháng 9 năm ngoái, báo chí vẫn đưa tin ngôi biệt thự vẫn chưa được trả
lại, thậm chí nó còn được vôi ve, tân trang xịn hơn so với 5 năm trước.
Câu chuyện nộp lại 1 tỷ trong năm đầu tiên và “ở lì” ngay cả sau khi đã hạ cánh
của ông Chủ tịch đang làm nản lòng tin dân chúng.
Bởi vậy, rất dễ hiểu, dư luận đã không ít đàm tiếu khi, vừa mới đây, một vị trưởng
phòng Cảnh sát giao thông CA Cần Thơ, đại tá Huỳnh Đấu Tranh báo cáo lãnh đạo
và trả lại 100 triệu đồng tiền biếu xén.
Trả lời báo chí sau đó, đại tá Đấu Tranh nói ông nhiều lần được biếu “dăm bảy triệu đồng, dăm trăm đôla Mỹ, nghìn đôla Mỹ
hoặc chai rượu”. Tuy nhiên, ông “đều trả lại”, ông “dặn người nhà”, ông “Cảm ơn
vì người ta có lòng tốt mà biếu nhưng giải thích là công an nhân dân đang học
tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh, phục vụ dân chứ đừng quà cáp gì”.
Ngay sau khi câu chuyện được đưa trên một diễn đàn ô tô xe máy, hàng trăm ý
kiến đã tỏ ý nghi ngờ, đặt câu hỏi, thậm chí đàm tiếu: &nbsp;“Trước khi trả anh đã đấu tranh, mang đi trả cũng là đấu
tranh, trả xong anh đấu tranh tiếp. Anh là Đấu Tranh”. Dư luận không phải không
có lý khi đặt câu hỏi. Bởi khó tìm trong thực tế một cá nhân, kể cả cỡ “đại gia thủy sản” tự dưng cảm ơn 100 triệu
đồng, lại tặng cho CSGT, chỉ vì được “tạo điều kiện thông thoáng về thủ tục
hành chính”. Và vì những “trường hợp” Lô Ích Giang, Hoàng Văn Nghiên không hề
thấy xuất hiện lại.
Câu hỏi đặt ra là vì sao người dân lại nghi ngờ, thậm chí đàm tiếu một
câu chuyện “người thực việc thực”. Câu trả lời có lẽ cũng không có gì phức tạp:
Vấn đề ở đây là niềm tin.
Hồi đầu tháng, tại Hội nghị tổng kết
5 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, con số 451 cán bộ, công chức đã nộp
lại quà tặng cho cơ quan, tổ chức với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng trong 5 năm
2006-2011 được chính Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá là “Còn ít” và “Không
phản ánh đúng thực trạng tình hình hiện nay”. Ông
Phúc cũng cho rằng &quot;Tình trạng lợi dụng các dịp lễ Tết, những phong tục, tập quán tốt đẹp
của dân tộc để biếu xén vẫn diễn ra khá phổ biến. Hiện tượng nhũng nhiễu, gây
phiền hà đối với người dân và doanh nghiệp chưa giảm&quot;.
Còn nhớ năm ngoái, khi CA TP HCM đề ra
quy định CSGT làm nhiệm vụ không được mang quá 100 ngàn đồng đã có không ít ý
kiến cho đây là một quy định “buồn cười”. Buồn cười không phải vì “quy định 100
ngàn”, mà bởi những kỳ vọng về việc sẽ ngăn chặn ngay được tiêu cực của quy định
này.
Sự nghi ngờ, những điệu cười, và lời đàm tiếu đang là một biểu hiện cho thấy người
dân ngày càng ít tin vào sự thanh liêm của đội ngũ cán bộ.
Nhưng không thế nói đến một sự khủng hoảng niềm tin, bởi còn có một “ngoại lệ
Nguyễn Bá Thanh”. Bí thư Thành ủy Đà Nẵng lại vừa có buổi nói chuyện với cán bộ,
chiến sĩ CA Thành phố. “Kể từ tháng 3, Lực lượng CSGT tại 4 cửa ô sẽ được hỗ trợ
thêm 5 triệu đồng/tháng”.Tuy nhiên, nếu phát hiện CSGT nào nhận mãi lộ sẽ tước
quân tịch và đuổi khỏi ngành, không cần phải xem xét mức độ nặng nhẹ. Tất
nhiên, không xem xét đến số tiền nhận là 1 tỷ, 100 triệu, hay chỉ 100 ngàn đồng.
Điều không bất ngờ là người dân tin ngay vào những điều ông nói- dù bản chất đó
chỉ là một tuyên bố như hàng chục tuyên bố trước đó.
Đơn giản là ông Nguyễn Bá Thanh đã từng nói, và đã từng làm đúng những gì mình
nói. Đơn giản nhưng
mà khó.]]></description>
            <pubDate>2012/03/21 23:52:59</pubDate>
            <guid><![CDATA[100 triệu đồng của ông Trưởng phòng và ngôi biệt thự của ngài Thị trưởng:5797]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Triệt thu]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5794]]></link>
            <description><![CDATA[Hôm qua, báo chí đã có những hàng loạt bài viết
mang tính “bóc mẽ” dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân mà Bộ Tài chính vừa công
bố. Đại í, với 4 phương án: Điều chỉnh thuế TNCN căn cứ vào GDP; Căn cứ vào
lương tối thiểu; Căn cứ vào mức độ trượt giá, và thứ 4- kỳ cục nhất- “Giữ
nguyên mức hiện hành”, Bộ Tài chính đã chọn và trình
phương án giữ nguyên biểu thuế lũy tiến từng phần như hiện hành và chỉ bỏ
đi một bậc thuế 35%. Trong tính toán của Bộ Tài chính, có một con số đáng chú
ý: GDP bình quân đầu người ở Việt Nam dự kiến năm 2014 là 1.811-1.843 USD.
Câu chuyện mức thuế bao nhiêu, giảm trừ gia cảnh bao nhiêu, phù hợp với thực tế
hay đã lạc hậu ngay khi trình dự thảo có lẽ không quan trọng bằng quan điểm của
nhà…trình luật. Biểu hiện rõ nhất là phát ngôn của một vị thứ trưởng, rằng “Mức
giảm trừ như thế đã là khoan sức dân rồi”. Kết quả của quan điểm này đã cho ra
một kết quả không hề lạ “Trên quan điểm bảo vệ nguồn thu, những phương án có lợi
cho người nộp thuế đều đã bị loại vào phút chót”.
Nhưng thế nào là “sức dân” và như thế nào&nbsp;
là “Khoan sức dân”?
Cuối tuần trước, khi mức phí bảo trì đường bộ được xướng lên, người ta đã rất
nhanh chóng tính ra rằng một đầu phương tiện, chẳng hạn như ô tô, ở Việt Nam phải
chịu đến 7 loại phí: Phí trước bạ, phí đăng ký cấp biển số, phí xăng dầu, phí bình ổn giá xăng dầu, phí đăng kiểm, phí bảo hiểm, phí bảo trì đường bộ và sắp tới, nhãn tiền
là phí lưu hành phương tiện, phí vào nội đô giờ cao điểm. Để so sánh, các loại thuế và phí
này khiến chi phí ban đầu cho một chiếc xe gấp 2,5 lần Mỹ. Phải mở ngoặc là GDP
bình quân đầu người tại Mỹ năm 2011 là 47.084 USD. Với cách hành luật như trên,
những người dân Việt Nam đang phải mua xe với mức thuế cao nhất thế giới, và nếu
những ý tưởng tận thu được thông qua, sẽ phải chạy xe với mức “phí lăn bánh”
cũng cao nhất thế giới.
Câu chuyện các loại phí cho thấy chữ “bảo vệ nguồn thu”, hay “tận thu” trong
trường hợp này chính xác phải là “triệt thu”.
Cũng hôm qua, báo chí đã có những điều tra xung quanh câu chuyện tận thu, thực
chất là “triệt thu” xung quanh mức phí đường cao tốc Trung Lương. Đại ý nếu đi
đường cao tốc này, các loại phương tiện sẽ tiết kiệm được 0,1 lít xăng, trong
khi mức phí cao gấp 3 lần.
Đang có một thực tế ô tô né đường cao tốc- một câu chuyện có lẽ chỉ có ở Việt
Nam.
Giữa chuyện xác định mức giảm trừ gia cảnh trong Luật Thuế tiêu thụ cá nhân và
việc đã và đang tung ra các hàng loạt các loại phí đang có một điểm chung là
quá xa cách với thực tế sức dân, một sức dân mà GDP đầu người tính đi tính lại
chỉ đủ chi phí cho việc khỏi chết đói và được phép đi lại ngoài đường.
Có thể ngay ngày mai, Bộ Tài chính vẫn sẽ cương quyết bảo lưu mức thuế với quan
điểm “bảo vệ nguồn thu”. Bộ GTVT có thế tính toán được lợi bao nhiêu cho ngân
sách, khi đệ trình thêm các loại thuế, phí mới. Tuy nhiên, điều họ không nên
nói tới là câu chuyện “sức dân”, “khoan sức dân” và sự “đồng thuận từ dân”.
Bởi những điều đó là không thật.]]></description>
            <pubDate>2012/03/20 08:38:49</pubDate>
            <guid><![CDATA[Triệt thu:5794]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[1 chiếc siêu xe, 777 năm thu nhập]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5791]]></link>
            <description><![CDATA[8h sáng ngày hôm qua 16-3, theo giờ địa phương tại Mỹ,
và một số vùng lãnh thổ khác trên toàn cầu, một “sự kiện văn hoá” đã diễn ra
khi chiếc iPad 3, thế hệ mới nhất đã được CEO của Apple giới thiệu trước công
chúng. Tuy nhiên, từ ngày 13-3, các trang web công nghệ lớn và nổi tiếng trên
thế giới đã đồng loạt có bài viết kèm video “đập hộp iPad 3 ở Việt Nam”.
Cho dù đoạn video này được thực hiện bằng tiếng Việt và chỉ mới được tải lên
youtube vài giờ trước đó nhưng rất nhanh chóng, thu hút hàng trăm ngàn lượt xem
và bàn luận, bằng đủ thứ tiếng, trên khắp thế giới.
Chiếc ipad 3 với màn hình siêu nét, siêu mỏng có giá chỉ 14-15 triệu đồng. Nhưng
với việc “chiếc đầu tiên”, trước thời điểm chính thức giới thiệu 3 ngày, đã có
mặt ở Việt Nam khiến dân chơi toàn cầu phải bái phục về sự sành điệu của dân chơi
Việt Nam.
Nhưng không phải sự sành điệu nào cũng phản ánh văn hoá hoặc thể hiện “đẳng cấp”.
Đẳng cấp nếu có, chỉ có thể là đẳng cấp “trọc phú”- Chữ dùng của TS Nguyễn
Quang A khi trao đổi với báo chí về chuyện tiêu tiền của một số “đại gia” hôm
nay: “Dù có nhiều tiền song hành động chơi trội của những &quot;đại gia&quot;
này chỉ thể hiện một phông văn hóa thấp xuất phát từ một tâm lý nhược tiểu,
tuyệt nhiên không biến họ thành “sang trọng” hay “có đẳng cấp” như họ mong muốn…Thậm
chí đó chỉ là cách “trả thù” một quá khứ nghèo đói”- ông nói. 
Câu chuyện chiếc siêu xe Bugatty Veyron xuất hiện tại Việt Nam hồi tháng 2 có lẽ là một ví dụ điển
hình về sự vô lý của việc tiêu tiền. Ngoài câu chuyện giá thành 1,4 triệu USD,
ngoài câu chuyện “phí tiêu vặt” mỗi năm của siêu xe lên tới 250 ngàn USD, tương
đương 5 tỷ vnd, thì báo chí nước ngoài băn khoăn, thắc mắc nhất là làm sao “Ông
hoàng tốc độ”, với vận tốc có thể đạt 407 km/h, nhưng khoảng sáng gầm chỉ 125mm- lại
có thể chạy nổi ở Việt Nam, nơi mà đường xá đồng nghĩa với ổ gà và giới hạn tốc
độ chỉ 80-km/h. Một tờ báo điện tử đã cử PV theo dõi siêu xe, và những hình ảnh
siêu xe ra khỏi gara với 4 người lót gỗ trải thảm để “đứa con thần gió” không bị
vấp bởi một vỉa hè thông thường 18cm khiến dân chơi thế giới phải há mồm kinh
ngạc.
Một tờ báo nước ngoài còn đưa ra so sánh về độ siêu của giá thành chiếc xe
trong tương quan với mức sống của người Việt Nam. Theo tính toán với thu nhập
bình quân của người Việt Nam là 3,2 triệu VND/tháng, tương đương 150 USD/tháng
và để mua được siêu xe Bugatti Veyron, một người dân bình thường sẽ phải bỏ ra
777 năm chỉ làm lụng mà không hề ăn tiêu mới có đủ tiền.
Có người nói người mua siêu xe chắc chắn phải là “siêu nhân” để dám mua một chiếc
xe bằng 777 năm làm lụng của một người dân. Phải siêu giàu để bỏ ra “phí tiêu vặt”
siêu đắt đỏ. Phải lái xe phải siêu giỏi để có thể siêu kiên nhẫn lái chiếc siêu
xe siêu khó lái giữa phố phường siêu lộn xộn, siêu ổ gà, siêu ùn tắc để đạt được
tốc độ của siêu xe căng hải. 
TS Nguyễn Quang A cũng cho rằng việc sắm biệt thự dát vàng, sắm chó triệu đô, rước
râu bằng siêu xe…rằng việc tiêu xài quá hoang phí ẩn dưới danh nghĩa sành điệu,
khoe của, hoặc để PR thực chất là “Sự hợm hĩnh kệch cỡm hơn là bất cứ bài toán
kinh doanh nào” Bởi “Không ai phải đổ mồ hôi công sức ra để kiếm được đồng tiền
lại làm như vậy”.
Hình như không phải ngẫu nhiên mà Tập đoàn Las Vegas Sands chọn Việt Nam là quốc
gia thứ 4 trên thế giới để đầu tư Casino.
]]></description>
            <pubDate>2012/03/17 00:59:49</pubDate>
            <guid><![CDATA[1 chiếc siêu xe, 777 năm thu nhập:5791]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Chính sách đè đầu cưỡi cổ]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5790]]></link>
            <description><![CDATA[Tuần
trước, một dự thảo thảo thông tư liên tịch về chiếc mũ bảo hiểm đã gây phản ứng
dữ dội từ dư luận. Theo dự thảo này, người đội mũ bảo hiểm không đảm
bảo chất lượng- cụ thể là không dán tem
CR- có thể sẽ bị xử phạt đến 200 nghìn đồng, như đối với người không đội mũ. Một quan chức của Tổng cục tiêu chuẩn đo
lường chất lượng sau đó trả lời báo chí, với câu nguyên văn “Thông tư
còn mang tính răn đe, đào tạo, hướng dẫn cho người dân biết thông tin về mũ bảo
hiểm nào là đảm bảo”.
Mũ bảo hiểm trên thị trường giờ 9 cái thì cả 10 đều có tem CR. Có điều, người
dân thì chịu. Không thể biết cái nào là CR xịn, cái nào rởm. Việc phân định
xịn/rởm, đáng lẽ là trách nhiệm của quản lý thị trường, của công an nay lại đổ
cả lên đầu dân, mà ông Phó Cục trưởng cũng không ngại thừa nhận qua hai chữ
“răn đe”- mục tiêu của một chính sách.
Trả lời báo chí, TS Vũ Thế Long, nguyên Trưởng ban nghiên cứu con
người và môi trường cho rằng: “Nếu
chỉ lo phạt thật nặng những người dân đội MBH kém chất lượng mà không xử phạt
những cơ sở sản xuất, kinh doanh MBH là hết sức vô lý. Nó chẳng khác gì người
đi xe mua phải xăng dởm khiến xe bị cháy, thay vì phạt người bán xăng rởm lại
phạt người mua phải xăng rởm và bị cháy xe”.
Một “bạn đọc” thì bình luận đây là một chính sách “vô cảm”&nbsp; và duy ý chí, khi bản chất vấn đề là người
dân phải đóng phạt cho trách nhiệm của “nhà chức trách” với phương tiện và
quyền lực trong tay.
Dân &quot;tâm phục khẩu phục” mới là lạ.
Hôm qua, cũng liên quan đến chính sách, Bộ GD và ĐT đã buộc phải có “đính
chính” khi khẳng định tiếng Hoa chỉ dành cho “học sinh dân tộc Hoa cấp tiểu học
và trung học cơ sở đang sinh sống ở Việt Nam&quot; và chỉ là &quot;môn học tự
chọn cho học sinh có nguyện vọng&quot;. Sự “nói lại cho rõ”, chỉ 2 ngày sau khi
lấy ý kiến nhân dân. Điểm tiến bộ là ít nhất Bộ GD và ĐT cũng đã công khai dự
thảo một chính sách liên quan đến
không chỉ quyền lợi mà còn là tâm tư của dân chúng. Và họ đã, rất nhanh chóng-
“nói lại cho rõ” ngay sau phản ứng của dư luận.
Về mặt thống kê, hiện 1/5 dân số TG dùng một trong những thứ tiếng TQ làm
tiếng mẹ đẻ. Học thêm một ngoại ngữ,
nói như Bộ GD và ĐT, là mở thêm một thế giới. Nhưng sẽ không thể là một ngoại
ngữ gây phản ứng dư luận rầm rộ đến như vậy. Rất đơn giản bởi người học là nhân
dân và con em của họ.
Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa trả
lời báo chí hôm qua đã cho rằng đưa tiếng Hoa vào chương trình là thực hiện nghị định số
82 về việc dạy và học tiếng
nói, chữ viết của dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, cũng theo phương diện thống kê, kết quả cuộc điều tra dân số và nhà
ở do Tông cục Thống kê tiến hành năm 2009 cho thấy người Hoa ở Việt Nam chỉ hơn
800 ngàn người. Ít hơn các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Mường, Khmer, chỉ ngang dân
tộc Mông.
Câu hỏi “tại sao” nhất thiết phải đặt ra: Nếu là vì các dân tộc thiểu số thì tại
sao không đưa tiếng Thái, tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Mường, tiếng Khmer, mà
lại là tiếng Hoa?!
Sự hời hợt có vẻ là điều rất dễ nhận thấy đối với dự thảo liên quan đến rất
nhiều người này.
Không một chính sách nào có thể làm vừa lòng tất cả dân chúng. Nhưng không thể
có một chính sách đổ trách nhiệm lên đầu dân, đè đầu cưỡi cổ dân, không thể có
một chính sách bất chấp dân chúng, hoặc sinh ra là để “răn đe” dân chúng. Bởi
một chính sách không được lòng dân chúng, không thực sự vì dân sẽ nhanh chóng
chết yểu ngay trên giấy. ]]></description>
            <pubDate>2012/03/16 08:33:03</pubDate>
            <guid><![CDATA[Chính sách đè đầu cưỡi cổ:5790]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[1 bài báo và 1.200 bài báo]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5788]]></link>
            <description><![CDATA[Đã có khoảng 1200 bài viết trên báo in và báo điện tử về “vụ Tiên Lãng”- Con số này hôm qua đã được ông Lưu Đình Phúc một quan chức Cục Báo chí, Bộ thông tin truyền thông đưa ra tại Hội thảo “Nguồn lực đất đai và vai trò của truyền thông” do RED Communication và Đại sứ quán Vương Quốc Anh tổ chức. Tuy nhiên, ông Phúc cũng không quên nhắc lại, vụ việc thực ra đã được báo Viet Nam Economic News phát hiện và phản ánh từ năm 2008. “Báo chí chưa thực sự đeo bám vụ việc đến cùng. Chỉ khi có hành vi chống trả của ông Vươn thì báo chí mới vào cuộc. Việc đấu tranh với cái sai, cái tiêu cực với thái độ nửa vời sẽ thể hiện sự thiếu trách nhiệm của cơ quan báo chí, của nhà báo trước xã hội”- ông Phúc nói.Điều đó là đúng, trong một thị hiếu báo chí mà GS Đặng Hùng Võ sau đó đã mô tả “80% những bài đọc nhiều nhất là chuyện hở hang, thu hút sự tò mò”. Đúng, nhưng chưa đủ, bởi khi báo chí quan tâm, thứ mà họ phải đối diện là sự lẩn tránh, hoặc tệ hơn, là sự “chống trả” của những người có trách nhiệm. Ngay cả khi câu chuyện “hai năm rõ mười” trên mặt báo, thái độ của chính quyền, trong hầu hết các trường hợp là im lặng.Vậy thì báo chí đã làm gì trong việc bảo vệ “nguồn lực đất đai”, mà thực chất là bảo vệ quyền và lợi ích của những người nông dân?Sau vụ Tiên Lãng, một tờ báo đã tung phóng viên làm một loạt điều tra về thân phận những người nông dân bám biển suốt dọc ven biển các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa…Kết quả của các cuộc điều tra là “Có quá nhiều thân phận Đoàn Văn Vươn”. Quá nhiều bất công. Ở Kim Sơn, Ninh Bình, chính quyền thu hồi 12 năm công sức lấn biển của nông dân để làm khu du lịch sinh thái. Thu hồi rồi bỏ hoang 2 năm nay và nông dân Kim Sơn đang “nuôi tôm chui” trên chính vùng đầm phá mà họ từng khai hoang, nay đã giao cho người khác. Ở Nga Sơn, Thanh Hóa, chính quyền chẹt cổ dân bằng cách nâng phí thuê đất từ 1,5 triệu đồng/ha lên 15 triệu/ha. “Bi kịch” cho nông dân và sự “tuyệt tình” của chính quyền còn thể hiện ở chỗ hợp đồng thuê đất được ký 10 năm, mới được 3 năm, nông dân mới chỉ kịp “đổ hết tài sản xuống đầm ngao” thì đã bị cho nốc-ao bằng việc thay đổi phí thuê đất cắt cổ…Dưới biển tệ, trên rừng cũng tệ không kém. Vụ việc gần nhất đang gây xôn xao là vụ Chủ tịch huyện Bù Đăng, Bình Phước ra lệnh phá điều, nhổ mì của nông dân “khai sơn” để giao cho DN trồng café.Bảo vệ nguồn lực đất đai cũng chính là bảo vệ nông dân. Nhưng những điều tra của báo chí, trước vụ Tiên Lãng, và trừ vụ Tiên Lãng, đã nhận được phản hồi gì? Ngoài sự lẩn tránh và im lặng?Nếu ngay từ năm 2008, chính quyền Tiên Lãng lắng nghe nông dân, thực hiện nghĩa vụ kiểm tra và trả lời với cơ quan báo chí, thì có lẽ chỉ có 1 bài báo đầu tiên, thay vì có tới 1.200 bài báo sau này. Nhưng báo chí chỉ có thẩm quyền “kêu ca hộ” mà thôi. Tháng 5-2007, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Nhưng suốt 5 năm qua, tình trạng phổ biến là người phát ngôn thích thì phát ngôn, không thích thì “bận họp”. Còn nghĩa vụ cung cấp thông tin thì đúng nghĩa là câu chuyện “Hãy đợi đấy”. GS Đặng Hùng Võ hôm qua đã rất có lý khi nói tới sự cần thiết có một “cơ chế thực hiện những giám sát” để những giám sát, của báo chí, của các cơ quan dân cử- không rơi vào “hố đen của sự im lặng”.Bây giờ, với một bài báo đầu tiên, những vụ thu hồi đất ở Kim Sơn, ở Nga Sơn, ở Bù Đăng đang là sự nhân bản những sai phạm của chính quyền, và những thân phận Đoàn Văn Vươn, với những uất nghẹn từ nông thôn.Nông dân cần sự giải quyết công bằng. Báo chí cần một câu trả lời. Để mỗi vụ việc “chỉ cần một bài”, thay vì xảy ra những tiếng súng hoa cải và 1.200 bài báo.]]></description>
            <pubDate>2012/03/15 00:21:26</pubDate>
            <guid><![CDATA[1 bài báo và 1.200 bài báo:5788]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Giá như Bộ trưởng nào cũng ngồi quán ốc]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5787]]></link>
            <description><![CDATA[Năm 2003, Tuổi trẻ có hẳn một bài
báo ca ngợi “Người đứng đầu chính quyền TP không ngại đóng vai một khách nghèo,
ngồi hàng giờ ở một quán ốc để biết mức thuế đánh vào nhiều hộ dân bất hợp lý
thế nào”. 9 năm qua, chuyện này vẫn mới, vẫn lạ. Không nói, bất cứ ai đọc cũng
có thể đoán ra đó là ông Nguyễn Bá Thanh- đương chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Câu
chuyện 9 năm vẫn hy hữu, là bởi những “trường hợp Nguyễn Bá Thanh” quá hiếm. Hiếm
đến mức độc nhất vô nhị.
Vị Bộ trưởng này có thể khoe hàng trăm tin nhắn vào máy di động. Vị Bộ trưởng
kia có thể lập trang web cá nhân. Rất điển hình là các vị quan chức tiếp công
dân ngay tại nhà riêng. Nhưng vẫn rất khó để trả lời câu hỏi những người đứng đầu
cơ quan hành chính nhà nước bây giờ làm thế nào để hiểu được tâm tư nguyện vọng
của dân.
Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ bấy giờ là ông Võ Văn Kiệt đã ký ban hành nghị định
89 về Quy chế tiếp công dân. Theo đó, thủ trưởng cơ quan hành chính các cấp phải
tiếp công dân “ít nhất 1 ngày trong tháng”. Những năm sau đó,phòng tiếp dân,
quy chế tiếp dân mọc như nấm tại hầu hết các cơ quan hành chính nhà nước. Thậm
chí có hẳn đội ngũ các công chức “Chuyên nghiệp tiếp dân”.
Nhưng không phải ngẫu nhiên nhân dân gọi đội ngũ “chuyên nghiệp tiếp dân”, bất
quá, cũng chỉ như một anh bưu tá, nhận đơn thư, ghi nhận bức xúc và hứa sẽ…chuyển.
Trả lời báo chí sau khi thị sát tại Tiên Lãng, LS Nguyễn Đức
Tiết, Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn về dân chủ pháp luật của Mặt trận có nói về
sự loanh quanh của Chính quyền khi đưa ra quyết định thu hồi đất “Người
thì nói là để xây sân bay, người thì bảo để quai đê lấn biển và di dân, người
khác lại khẳng định thu hồi rồi chia nhỏ tổ chức đấu thầu để tăng nguồn thu cho
xã”. “Như vậy là chưa rõ ràng, chưa minh bạch”- ông Tiết kết luận.
Vụ án Cống Rộc có thể sẽ không xảy ra nếu trước khi ra quyết định cưỡng chế,
chính quyền tổ chức đối thoại thẳng thắn, minh bạch và trách nhiệm với dân.
Thiếu đối thoại, dù có quy định về tiếp dân, dù đâu đâu cũng có trụ sở tiếp
dân, dù có hẳn đội ngũ “chuyên nghiệp tiếp dân”- chính là nguyên nhân dẫn đến
khoảng cách giữa quan chức và người dân, giữa chính quyền và công dân. Khoảng
cách đó, qua minh chứng điển hình là vụ Tiên Lãng, giờ lớn đến mức nghi kỵ, đối
đầu.
Hôm 12-3, Thủ tướng Chính phủ vừa thông báo chính thức việc dành
5-7 phút mỗi tuần- trên chương trình thời sự tối chủ nhật của Đài truyền hình
quốc gia- để các vị Bộ trưởng, các quan chức đầu ngành đối thoại với người dân.
Vị Bộ trưởng gần nhất sẽ đối thoại sẽ là bà Bộ trưởng Bộ Y tế với vấn đề tăng
giá viện phí, một đề án đến giờ vẫn gây ra những phản ứng dữ dội từ phía người
dân.
Có thể, việc tăng cường, và định kỳ đối thoại của các Bộ trưởng với người dân sẽ
“đề cao trách nhiệm của người đứng đầu”. Có thể đây sẽ là tiền lệ tốt để người
dân có thể hiểu được “tại sao chính sách”- thay vì tự hỏi, tự trả lời. Có thể
đây là một tiến bộ trong việc thúc đẩy quyền được biết của người dân. Nhưng một
cuộc đối thoại qua mạng, hay trên truyền hình không thể thay thế các cuộc đối
thoại trực tiếp. Sự định kỳ giải thích cũng không thể thay thế cho việc lắng
nghe trước mỗi quyết định thời điểm.
Giá như Bà Bộ trưởng đối thoại với dân trước khi trình ký đề án viện phí. Giá
như Bộ trưởng Tài chính giải thích với dân trước khi cộp dấu cho giá xăng tăng.
Giá như Bộ trưởng GTVT trả lời trực tiếp câu hỏi tại sao thu phí. Giá như Bộ
trưởng Nông nghiệp tính hộ nông dân được lợi thế nào khi mua tạm trữ 1 triệu tấn
gạo trước khi gật đầu.
Giá như Bộ trưởng nào cũng ngồi quán ốc.
Bởi điều người dân cần không phải là việc thanh minh, trần tình về những quyết
định đã ban hành- một sự đã rồi.
Bởi việc đối thoại chỉ thực sự có ý nghĩa một khi nó được tổ chức trước khi các
chính sách, quyết định hành chính, có ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân được
ban hành.]]></description>
            <pubDate>2012/03/14 00:01:56</pubDate>
            <guid><![CDATA[Giá như Bộ trưởng nào cũng ngồi quán ốc:5787]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w2.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Thu May 24 04:15:40 HKT 2012 -->

